Cần đi khám sớm để được chẩn đoán và điều trị kịp thời bệnh ung thư vú

Ngày đăng: 06/06/2023 Lượt xem 201

Cần đi khám sớm để được chẩn đoán và điều trị kịp thời bệnh ung thư vú

PGS.TS. Phạm Cẩm Phương, Ths.Bs. Đào Mạnh Phương. BSNT Nguyễn Đình Dương

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở nữ giới cả trên thế giới và ở Việt Nam. Theo thống kê của ghi nhận ung thư toàn cầu (GLOBOCAN), trong năm 2020 có tới 2.261.419 phụ nữ được phát hiện ung thư vú và có tới 684.996 trường hợp tử vong Ở Việt Nam ung thư vú cũng là loại ung thư đứng hàng đầu, chiếm tới 25.8% các trường hợp ung thư ở nữ giới với 21.555 người mới được phát hiện bệnh và 9.345 bệnh nhân tử vong. Việc phát hiện chẩn đoán sớm bệnh có vai trò quan trọng trong điều trị và tiên lượng. Theo thống kê tại Hoa Kỳ, nếu ung thư vú được chẩn đoán sớm khi bệnh còn khu trú trong tuyến vú thì tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân sau điều trị lên tới 99%. Tuy nhiên khi ung thư đã lan ra ngoài tuyến vú, tới hạch bạch huyết và các tổ chức xung quanh tỷ lệ này giảm xuống còn 86%. Khi ung thư đã di căn tới các cơ quan khác của cơ thể như di căn phổi, gan, xương, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn có 30%.

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ trong công tác sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú. Tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai đã có những chương trình sàng lọc giúp phát hiện sớm ung thư vú giúp nhiều bệnh nhân có cơ hội chữa khỏi bệnh hoàn toàn hoặc ổn định bệnh lâu dài. Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà bệnh nhân chỉ đến bệnh viện khám, phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, khi bệnh đã tiến triển và di căn, cơ hội chữa khỏi bệnh đã giảm đi nhiều. Sau đây chúng tôi trình bày một trường hợp lâm sàng như vậy. Hy vọng trong tương lai, những trường hợp phát hiện bệnh muộn như vậy sẽ ngày càng giảm đi.

Trường hợp lâm sàng:

Bệnh nhân nữ Phạm Thị T., 67 tuổi, vào viện vì đau bụng hạ sườn phải.

Bệnh sử: Khoảng hơn 1 năm nay, bệnh nhân bắt đầu cảm thấy khó chịu ở vùng vú trái. Tuy nhiên bệnh nhân không đi khám bệnh và cũng không chia sẻ với các thành viên khác trong gia đình. Khoảng hai tuần gần đây bệnh nhân thấy đau bụng vùng hạ sườn phải, gầy sút cân nên đã vào bệnh viện tuyến dưới để khám bệnh. Kết quả khám qua siêu âm phát hiện bệnh nhân có tổn thương ở gan theo dõi do di căn. Bệnh nhân đã đến Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, bệnh viện Bạch Mai để khám bệnh.

Sau khi khám bệnh, bác sỹ phát hiện bệnh nhân có khối u vú trái kích thước 5x6cm, chiếm hơn ½ vú, mật độ chắc, di động kém, chảy máu, chảy dịch; kèm theo vài nốt tổn thương vệ tinh xung quanh; đồng thời thâm nhiễm da, gây viêm, nề đỏ vùng da xung quanh. Có nhiều hạch nách 2 bên kích thước hạch lớn nhất khoảng 1cm. Vú phải chưa phát hiện khối bất thường. 

3710 anh 1 

Hình 1: Hình ảnh u lớn vú trái xâm lấn ra da (mũi tên màu đỏ) và các tổn thương xung quanh (mũi tên đen)

Bệnh nhân được chỉ định làm xét nghiệm máu cơ bản, siêu âm và chụp X-quang tuyến vú, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực và ổ bụng, kết quả như sau:

-          Xét nghiệm các chất chỉ điểm ung thư

+ CEA: 10.31 ng/ml (tăng, bình thường <4.3 ng/ml)

+ CE 15-3: 300 U/ml (tăng, bình thường < 25 U/ml)

+ AFP: 2.8 ng/ml (trong giới hạn bình thường)

-          Chụp Xquang tuyến vú: phát hiện u vú trái và nốt vôi hóa vú phải.

3710 anh 2 

Hình 2: Hình ảnh khối tăng đậm độ kèm các đám vi vôi hóa theo vùng vị trí ¼ trên ngoài vú trái, kích thước 24x41mm, ranh giới không rõ kèm co kéo núm vú và dày da vú vị trí lân cận, phân loại BIRADS 5 (vòng tròn màu đỏ). Nốt vôi hóa thô vị trí 1/4 trên trong vú phải, BIRADS 2 (mũi tên màu xanh)

-          Siêu âm tuyến vú hai bên phát hiện: Vú trái: vị trí 11 giờ sát núm vú có khối giảm âm, kích thước 5,3x4,2cm, bờ không đều, không rõ ranh giới, thâm nhiễm ra da, bên trong có vi vôi hóa (phân loại BIRADS 5). Hố nách 2 bên có nhiều hạch, hạch lớn nhất bên hố nách trái kích thước 1,1x1cm, không rõ cấu trúc rốn hạch.

-          Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực: phát hiện khối u vú trái và hạch nách 2 bên:

3710 anh 3 

Hình 3: Hình ảnh khối u vú trái kích thước 34x45mm, bờ đa cung, ngấm thuốc mạnh không đều sau tiêm, gây dày da vú lân cận (mũi tên màu đỏ); vài hạch vùng hố nách 2 bên, hạch lớn nhất bên trái kích thước 10x15mm, ngấm thuốc không đều sau tiêm, có thâm nhiễm quanh hạch (mũi tên màu vàng)

-          Chụp cắt lớp vi tính ổ bụng: phát hiện nhu mô gan có nhiều khối, nốt ngấm thuốc ngoại vi, theo dõi do di căn.

 3710 anh 4

Hình 4: Hình ảnh nhu mô gan có nhiều khối, nốt ngấm thuốc ngoại vi, khối lớn nhất đường kính khoảng 25mm (mũi tên màu đỏ), theo dõi do di căn.

-            Xét nghiệm tế bào học u vú trái (áp lam dịch u): ung thư biểu mô tuyến vú.

-            Kết quả giải phẫu bệnh sinh thiết u vú trái: Ung thư biểu mô xâm nhập độ 2

Chẩn đoán xác định; Ung thư vú trái T4bN2M1 giai đoạn IV

Bệnh nhân đã được nhập viện nội trú để làm các xét nghiệm hóa mô miễn dịch và điều trị.

Kết luận:

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở nữ giới. Việc sàng lọc và phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm có vai trò quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả điều trị. Người bệnh nên đi khám sức khỏe định kỳ, tầm soát để được phát hiện và chẩn đoán bệnh sớm, từ đó giúp nâng cao hiệu quả điều trị, giảm chi phí.

Tài liệu tham khảo:

American Cancer Society. Breast Cancer Survival Rates by Stage. (2021, January 27). Retrieved from https://www.cancer.org/cancer/breast-cancer/understanding-a-breast-cancer-diagnosis/breast-cancer-survival-rates.html.

Nguồn: ungthubachmai.com.vn

Tin liên quan