HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT ĐỂ GIẢM NGUY CƠ ĐỐI VỚI UNG THƯ BUỒNG TRỨNG Ở BỆNH NHÂN KHÔNG MANG ĐỘT BIẾN GEN BRCA

Ngày đăng: 12/01/2026 Lượt xem 47

HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT ĐỂ GIẢM NGUY CƠ ĐỐI VỚI UNG THƯ BUỒNG TRỨNG Ở BỆNH NHÂN KHÔNG MANG ĐỘT BIẾN GEN BRCA

Ths. Võ Thị Thúy Quỳnh (sưu tầm và lược dịch)

Đơn vị Gen – Tế bào gốc, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai

Phẫu thuật cắt bỏ hai bên buồng trứng và vòi trứng hiện là một biện pháp dự phòng đã được xác lập nhằm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng ở những bệnh nhân mang đột biến gen BRCA1BRCA2. Tuy nhiên, loại phẫu thuật này ngày càng được chỉ định rộng rãi cho những bệnh nhân mang các biến thể gen không thuộc BRCA. Tuy vậy, các bằng chứng hiện có đối với chỉ định này ở nhóm không mang đột biến gen BRCA chủ yếu dựa trên các nghiên cứu bệnh - chứng có chất lượng thấp, và vẫn còn thiếu các nghiên cứu đánh giá đầy đủ về lợi ích so với rủi ro khi thực hiện phẫu thuật ở nhóm bệnh nhân này.

Ung thư buồng trứng là một trong những loại ung thư phụ khoa có tỷ lệ tử vong cao nhất, với tỷ lệ sống còn sau 5 năm chỉ khoảng 50%. Mặc dù chỉ khoảng 20% các trường hợp ung thư buồng trứng có yếu tố di truyền, nhưng mối quan tâm đến các biện pháp phòng ngừa dựa trên nguy cơ gen là rất lớn. BRCA1 và BRCA2 là hai gen nguy cơ di truyền được biết đến rộng rãi nhất. Theo trình bày của TS. Mubeen tại Hội nghị thường niên năm 2025 của Học viện Giải phẫu bệnh Hoa Kỳ và Canada (USCAP), người mang đột biến gen BRCA1 có nguy cơ suốt đời mắc ung thư ống dẫn trứng – buồng trứng ước tính vào khoảng 39%–44%, trong khi người mang đột biến gen BRCA2 có nguy cơ vào khoảng 11%–17%.

Nhóm bệnh nhân không mang đột biến gen BRCA

Để so sánh các phát hiện mô bệnh học giữa nhóm không mang đột biến gen BRCA và nhóm mang đột biến gen BRCA khi thực hiện phẫu thuật giảm nguy cơ, TS. Mubeen và cộng sự đã phân tích dữ liệu lâm sàng – mô bệnh học từ 152 bệnh nhân mang đột biến không thuộc BRCA được thực hiện phẫu thuật tại ba cơ sở y tế. Những bệnh nhân này được so sánh với nhóm đối chứng gồm 388 bệnh nhân mang đột biến gen BRCA1 hoặc BRCA2.

Ở nhóm không mang đột biến gen BRCA, độ tuổi trung bình là 54,8 (dao động từ 30–81 tuổi), các đột biến gen khác bao gồm: PALB2 (45%), BRIP1 (33%), ATM (8%), CHEK2 (4%) và RAD51 (4%). Các chỉ định khác cho phẫu thuật giảm nguy cơ bao gồm: đột biến BARD1, hội chứng Li-Fraumeni và hội chứng Lynch. Nguyên nhân chính khiến bệnh nhân nhóm không mang đột biến gen BRCA được chỉ định xét nghiệm di truyền bao gồm: tiền sử cá nhân mắc ung thư vú (51%) và tiền sử gia đình dương tính (27%). Loại phẫu thuật được thực hiện bao gồm: cắt hai bên buồng trứng và vòi trứng (97%) và cắt tử cung kết hợp cắt hai bên buồng trứng và vòi trứng (3%).

Ở nhóm này, kết quả mô bệnh học ghi nhận một trường hợp tăng sản tế bào chế tiết, một trường hợp p53 signature, một tổn thương tiền ung thư biểu mô nội ống (STIL), ba u thanh dịch dạng giáp biên.Không ghi nhận trường hợp nào mắc tổn thương biểu mô nội ống tuyến thanh dịch (STIC) hay ung thư biểu mô tuyến thanh dịch độ cao. 146 bệnh nhân còn lại (96%) không có bất kỳ biến đổi mô học nào đáng kể. Ngoài ra, có hai trường hợp dịch rửa khung chậu bất thường: một nghi ngờ có liên quan đến u thanh dịch giáp biên, trường hợp còn lại có tế bào không điển hình.

Nhóm bệnh nhân mang đột biến gen BRCA1/2

Trong nhóm 388 bệnh nhân mang đột biến gen BRCA, 51% có BRCA1, 48% có BRCA2 và 1% mang cả hai gen. Tuổi trung bình của nhóm này thấp hơn so với nhóm không mang đột biến gen BRCA, ở mức 47,7 tuổi. Trong đó, 65% được cắt hai bên buồng trứng – vòi trứng, 27% được cắt tử cung và hai bên buồng trứng – vòi trứng, 7% thực hiện các loại phẫu thuật khác.

Kết quả mô bệnh học ghi nhận: một trường hợp p53 signature, ba STIL, ba STIC, bảy ung thư biểu mô tuyến thanh dịch độ cao. Ngoài ra còn có một ung thư nội mạc tử cung và ba chẩn đoán bệnh lý khác. 370 bệnh nhân còn lại (95%) không có biến đổi mô học. Với thời gian theo dõi trung bình 23,3 tháng ở nhóm không BRCA, 149/149 bệnh nhân có theo dõi không ghi nhận bệnh tái phát. Trong khi đó, ở nhóm BRCA1/2, sau thời gian theo dõi trung bình 60,1 tháng, 374/388 bệnh nhân (96%) không có bằng chứng bệnh.

Bàn luận

TS. Mubeen nhấn mạnh: “Trong nhóm 152 bệnh nhân không mang đột biến gen BRCA, chúng tôi không phát hiện bất kỳ trường hợp nào mắc ung thư biểu mô tuyến thanh dịch độ cao hay tổn thương biểu mô nội ống tuyến thanh dịch. Trong khi đó, ở nhóm mang đột biến gen BRCA1/2, tỷ lệ này khoảng 3%.”

Việc có được dữ liệu trên 152 bệnh nhân không mang đột biến gen BRCA đã trải qua phẫu thuật giảm nguy cơ cho thấy đây là thực hành lâm sàng phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, kết quả này đặt ra câu hỏi liệu phẫu thuật đó có thực sự cần thiết hay không, và liệu nó có gây nhiều rủi ro hơn là lợi ích – đặc biệt là đối với khả năng sinh sản và nguy cơ mãn kinh sớm. TS. Mubeen cho biết thêm: “Quyết định thực hiện phẫu thuật giảm nguy cơ là một quá trình rất phức tạp, không chỉ dựa trên đột biến gen BRCA, mà còn phải xét đến tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc ung thư. Hơn nữa, cần lưu ý rằng dữ liệu dự đoán nguy cơ vẫn đang liên tục được cập nhật. Dữ liệu mô bệnh học chỉ là một phần trong toàn bộ bức tranh, còn rất nhiều yếu tố khác từ di truyền học, dịch tễ học, đến ung thư học cũng đóng vai trò thiết yếu.”

BS. Ilana Cass, khoa Phụ sản tại Trung tâm Ytế Dartmouth Hitchcock (New Hampshire), người không tham gia vào nghiên cứu,cho biết: ở phụ nữ chưa mãn kinh, phẫu thuật cắt hai bên buồng trứng – vòi trứng có thể dẫn đến các rủi ro lâu dài đã được ghi nhận về các bệnh lý và nguy cơ tử vong, như: tăng nguy cơ tử vong sớm do bệnh Alzheimer hoặc bệnh tim mạch nếu buồng trứng bị cắt trước 45 tuổi và người phụ nữ không sử dụng liệu pháp hormone thay thế. “Do đó, vấn đề cốt lõi là phải cân nhắc giữa các rủi ro này với nguy cơ từ đột biến gen,” bà nói. Xét đến các rủi ro của phẫu thuật trước mãn kinh, “Thông điệp cần được nhấn mạnh từ nghiên cứu này là chúng ta nên thực sự cân nhắc và trì hoãn khuyến nghị thực hiện phẫu thuật ở nhóm không mang đột biến gen BRCA cho đến khi phụ nữ lớn tuổi hơn,” bà kết luận.

Bài viết được lược dịch từ bài viết “Risk-reduction surgery benefit in non-BRCAovarian cancer” đăng trên Medscape ngày 26 tháng 03 năm 2025 của Nancy A.Melville.



Tin liên quan