Ca lâm sàng bệnh nhân mắc 3 loại ung thư: ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến giáp, ung thư vú tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai

Ngày đăng: 04/01/2023 Lượt xem 111

Ca lâm sàng bệnh nhân mắc 3 loại ung thư: ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến giáp, ung thư vú tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai

PGS.TS Phạm Cẩm Phương, GS.TS.BS Mai Trọng Khoa, BSNT Phùng Thế Thông

Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu- Bệnh viện Bạch Mai

Theo GLOBOCAN 2020, số lượng bệnh nhân mắc và tử vong do ung thư trên thế giới ngày càng tăng, tại Việt Nam tỉ lệ mắc và tỉ lệ tử vong cũng tăng với số ca mới mắc là 182 563, số ca tử vong là 122 690. Ung thư vú là loại ung thư mắc phổ biến nhất với tỷ lệ 25,8% tổng số ca ung thư ở nữ giới, tiếp theo là ung thư phổi (9,1%), ung thư đại tràng (9%), ung thư dạ dày (8,2%), ung thư gan (7,4%). Ung thư tuyến giáp đứng thứ 10 trong tổng số ca mới mắc ở cả hai giới, chiếm 3% tỷ lệ mắc mới. Ung thư cổ tử cung đứng 12 với tỷ lệ mới mắc 2,3% mặc dù chỉ mắc ở nữ giới. Thống kê về việc đồng mắc cùng lúc cả ba loại ung thư này còn hạn chế và cũng chưa nhiều giả thuyết chỉ rõ mối liên hệ về việc tăng nguy cơ mắc các loại ung thư khác sau khi phát hiện một trong các loại ung thư kể trên. Một số nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra rằng mối liên hệ tích cực giữa ung thư tuyến giáp và ung thư vú: tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp ở những bệnh nhân có tiền sử ung thư vú và sự gia tăng nguy cơ ung thư vú ở những bệnh nhân có tiền sử ung thư tuyến giáp [1, 2]. Tác giả Young Ju Jin và cộng sự [3] chỉ ra rằng phụ nữ mắc ung thư tuyến giáp làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú 1,64 lần so với phụ nữ bình thường và ngược lại, phụ nữ mắc ung thư vú có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp tăng 1,91 lần so với bình thường.

Dưới đây là một trường hợp người bệnh mắc lần lượt cả 3 loại ung thư cổ tử cung và ung thư tuyến giáp, ung thư vú. Điều đáng nói là bệnh nhân phát hiện bệnh đều ở giai đoạn sớm nhờ vào khả năng hiểu biết về các yếu tố nguy cơ và thực hiện tầm soát, theo dõi định kì bệnh tốt.

Bệnh nhân Bùi Thị T. nữ, sinh năm 1963

Quê quán: Lê Lợi, Kiến Xương, Thái Bình

Tiền sử: Tăng huyết áp đã điều trị 6 năm Amlodipine 5mg/ngày

Bệnh sử:

Tháng 10/2018, bệnh nhân được chẩn đoán Ung thư cổ tử cung, bệnh nhân đã phẫu thuật cắt toàn bộ tử cung và nạo vét chậu hai bên; xạ trị hậu phẫu 25 buổi (50Gy). Sau đó bệnh nhân thăm khám định kì theo lịch hẹn.

10/2020, bệnh nhân đi khám định kì theo hẹn được chỉ định siêu âm hạch vùng cổ và siêu âm tuyến giáp. Kết quả siêu âm phát hiện nhân thùy phải tuyến giáp kích thước 0,5x0,5cm có tổn thương vôi hóa. Xét nghiệm tế bào học u tuyến giáp cho kết quả ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú. Bệnh nhân được đánh giá giai đoạn và phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, nạo vét hạch cổ.

Chẩn đoán sau mổ: Ung thư tuyến giáp thể nhú đã phẫu thuật pT1N0M0/Ung thư cổ tử cung đã điều trị ổn định

Sau đó bệnh nhân được điều trị Levothyrox 100mg/ngày duy trì, không có chỉ định điều trị I-131, tổn thương nhỏ, khu trú trong tuyến giáp, chưa phá vỡ vỏ, chưa di căn hạch cổ, siêu âm và xạ hình tuyến giáp sau phẫu thuật không còn tổ chức tuyến giáp. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi định kì hai bệnh ung thư tuyến giáp và ung thư cổ tử cung.

Đến tháng 7/2022, bệnh nhân đi kiểm tra sức khỏe định kì theo hẹn hai bệnh ung thư tuyến giáp và ung thư cổ tử cung, được bác sĩ thăm khám và siêu âm vú, chụp X-quang tuyến vú hai bên phát hiện nhân vú phải vị trí 1 giờ, khối giảm âm bờ không đều kích thước 1x0,7cm, phân loại BIRADS 5. Không phát hiện khối bất thường hố nách hai bên.

Bệnh nhân được chỉ định sinh thiết cho kết quả ung thư biểu mô tại chỗ

Bệnh nhân được nhập viện điều trị. Thăm khám tại thời điểm nhập viện:

  • Bệnh nhân tỉnh, chiều cao: 165 cm; cân nặng 54kg.
  • Tim đều, T1, T2 rõ, không tiếng thổi.
  • Phổi 2 bên rì rào phế nang rõ, không rales
  • Bụng mềm, không chướng
  • Khám vú: Vú phải có khối u ¼ trên trong kích thước khoảng 0,7cm, da ngoài vú không có bất thường, núm vú không chảy dịch, không bị co kéo, không sờ thấy khối bất thường. Vú trái không phát hiện bất thường. Hạch nách hai bên không sờ thấy.

Các xét nghiệm cận lâm sàng trước mổ:

-          Công thức máu, đông máu cơ bản: Các chỉ số trong giới hạn bình thường.

-          Hóa sinh máu: Chức năng gan, thận, hormone tuyến giáp trong giới hạn bình thường, chỉ điểm u CEA: 3,97 ng/mL, CA 15-3: 4,6 ng/mL trong giới hạn bình thường.

-       Cộng hưởng từ vú hai bên: Hình ảnh nốt tổn thương kích thước 6mm vị trí 1 giờ vú phải bờ không đều, ngấm thuốc sớm và thải thuốc thì muộn (BIRADS 4b), lan ra nhu mô lân cận; các dải và nốt ngấm thuốc viền vị trí trung tâm vú phải (BIRADS 4a). Không thấy hạch bất thường hố nách hai bên.

-       Cộng hưởng từ não: Không có tổn thương thứ phát, vài ổ thoái hóa myeline thùy trán hai bên

-       Bệnh nhân được chụp PET/CT trước mổ: Nốt tỉ trọng mô mềm ở ¼ trên trong vú phải đường kính 8mm, tăng nhẹ chuyển hóa 18FDG.

3695 anh 1  

Hình 1: Hình ảnh tổn thương u vú phải, tăng nhẹ chuyển hóa 18FDG trên phim chụp PET/CT

3695 anh 2

Hình 2. Khối u vú phải trên hình ảnh cộng hưởng từ vú trên xung T2 STIR cách núm vú khoảng 3cm, cách bề mặt da khoảng 16mm (mũi tên vàng).

Bệnh nhân được thông qua Hội đồng hội chẩn nhóm chuyên gia chẩn đoán và điều trị bệnh lý tuyến vú với sự tham gia của các Trung tâm/Khoa trong bệnh viện bao gồm Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Khoa Phẫu thuật Lồng ngực, Trung tâm Giải phẫu bệnh, Trung tâm Điện quang; Bệnh nhân được chẩn đoán Ung thư vú phải T1N0M0 (giai đoạn tại chỗ), được chỉ định điều trị phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú cải biên (Patey).

Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ: Ung thư biểu mô thể ống tại chỗ. Không thấy thành phần ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập. 27/27 hạch viêm mạn tính. ER (+); PR (+); Her 2 (-); Ki67 (+)

Sau đó bệnh nhân được chỉ định điều trị nội tiết.

Hiện tại, với việc mắc ba loại ung thư và đã được điều trị triệt căn bệnh.

Thảo luận: Ca lâm sàng nêu trên đã cho chúng ta thấy được hai yếu tố quan trọng trong việc đẩy lùi bệnh ung thư là khả năng tầm soát phát hiện sớm và nhận thức dự phòng bệnh ung thư ở chính người bệnh. Bệnh nhân với tâm lý cẩn thận, tích cực tìm hiểu và ý thức được tầm quan trọng trong việc phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và bệnh nhân đã được bác sĩ phát hiện đồng mắc cả ba loại ung thư, và điều được phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm. Nhìn chung, ung thư vú, ung thư tuyến giáp và ung thư cổ tử cung là ba loại ung thư có tiên lượng khá tốt nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm và điều trị kịp thời. Các khuyến cáo từ WHO chỉ ra rằng phụ nữ cần xác định rõ các yếu tố nguy cơ và thực hiện tầm soát định kì. Đối với ung thư vú, tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên tự khám vú thường xuyên và khám định kỳ tầm soát ung thư; phụ nữ trên 40 tuổi nên tầm soát ung thư vú đặc biệt những người có yếu tố nguy cơ cao mắc bệnh bằng siêu âm tuyến vú hoặc chụp X quang vú 1 năm/ lần. Các yếu tố nguy cơ cao mắc bệnh bao gồm tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng, tiền sử có kinh sớm (trước 12 tuổi) mãn kinh muộn (sau 55 tuổi), thường xuyên sử dụng thuốc tránh thai hoặc hormon nội tiết estrogen thay thế, không sinh con hoặc sinh con muộn sau 30 tuổi….. Ung thư cổ tử cung có thể sàng lọc bằng cách tiến hành khám cổ tử cung bằng mỏ vịt, soi cổ tử cung, xét nghiệm tế bào học âm đạo 1-2 lần/mỗi năm ở đối tượng phụ nữ trên 30 tuổi đã có gia đình; việc lựa chọn phương pháp nào tùy thuộc vào khả năng của cơ sở y tế thăm khám. Xác định rõ các yếu tố nguy cơ của ung thư tuyến giáp và tự thăm khám vùng cổ thường xuyên để phát các khối u bất thường làm tăng khả năng chẩn đoán và phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.

Tài liệu tham khảo:

1.     Joseph K. R., S. Edirimanne, and G. D. Eslick (2015). The association between breast cancer and thyroid cancer: a meta-analysis, Breast Cancer Res Treat, 152(1), 173-181. 10.1007/s10549-015-3456-6.

2.     Jung H. K., et al. (2017). Development of second primary cancer in Korean breast cancer survivors, Ann Surg Treat Res, 93(6), 287-292. 10.4174/astr.2017.93.6.287.

3.     Jin Y. J., et al. (2022). Association between Thyroid Cancer and Breast Cancer: Two Longitudinal Follow-Up Studies Using a National Health Screening Cohort, J Pers Med, 12(2), 10.3390/jpm12020133.

Nguồn: ungthubachmai.com.vn

Tin liên quan